Phật thủ

Cập nhật lúc: 09:01 24/06/2019

  • Tên phổ thông: Phật thủ

  • Tên khoa học: Citrus medica var. sarcodactylis

  • Họ thực vật: Họ Rutaceae

  • Nguồn gốc xuất xứ: Trung Quốc và Nhật Bản

  • Phân bố ở Việt Nam: Trên cả nước

1. Đặc điểm hình thái:

  • Thân, tán, lá:

         - Rễ: Rễ bề mặt của Phật thủ rất nhiều và nó có thể tiết ra axit hòa tan các khoáng chất trong đất và việc hấp thu chất dinh dưỡng từ gốc là rất tốt.

        – Lá: Cây Phật Thủ lá thường kéo dài hình bầu dục, chiều dài lá 5~10cm, đỉnh tù, răng cưa viền lá, cuống lá ngắn. Lá là nơi tổng hợp và lưu trữ chính cho các cơ quan quan trọng trong cây. Lá nhiều, sáng bóng màu xanh đậm cho kết quả cây tốt, năng suất ổn định, ngược lại lá thưa thớt, mỏng thì kết quả tạo hoa và giữ hoa là rất khó khăn. Trang trại Tâm An qua thực hành sản xuất đã chứng minh rằng: bón phân hợp lý, ko những giảm chi phí mà còn giúp cây phát triển tốt, quang hợp tốt, lá dầy sáng bóng màu xanh đậm và như vậy cây Phật Thủ sẽ cho kết quả tốt.

        – Thân: Thân cây Phật Thủ màu nâu sẫm hoặc màu xanh lá cây ko những là bộ khung xương tạo hình đỡ tán cây mà nó còn là kênh vận chuyển nước và chất dinh dưỡng

  • Hoa, quả, hạt:

       - Cây Phật Thủ đặc tính bao gồm cả hai hoa đơn và lưỡng tính. Hoa cái thường có nụ ngắn khỏe khoắn, hoa đực thường có nụ dài trông yếu ớt hơn, hoa thường có 5 cánh màu tím hoặc màu trắng. Hoa đơn tính hoặc hoa đực thường không đỗ nhưng có thể được chọn và sấy khô để làm thuốc hoặc trà.

       - Trái: Trái khi nhỏ có màu xanh đậm, trái trưởng thành màu vàng chanh. Hoa trái ra vào mùa xuân là chính vụ và trái chín vào cuối mùa hè, từ khi đậu trái đến khi chín khoảng 4~5 tháng. Ngoài ra vụ nghịch là làm cây ra hoa dịp tháng 6 hoặc tháng 7 và chín vào dịp cuối năm. Với vụ thuận mùa xuân trái thường có ngón tay dài, ngón to và thưa ngón hơn khác với vụ nghịch trái thường nhiều ngón, ngón nhỏ có hình dạng giống như một bông hoa cúc.

​2.Công dụng:

Quả Phật thủ không thể ăn trực tiếp được. Tuy nhiên, nó có thể được dùng làm nguyên liệu chế biến các món ăn ngon bổ dưỡng cũng như các bài thuốc quý.

  • Dùng phật thủ dùng sắc lấy nước uống hằng ngày có tác dụng chữa ho và là vị thuốc giúp tiêu hóa tốt.

  • Trà phật thủ cũng là một thức uống thơm, mát mà còn có thể chữa thêm các bệnh về dạ dày: đau dạ dày cấp tính, đau dạ dày mãn tính …

  • Nếu ngày Tết bạn đã rất quen thuộc với các loại mứt: dừa, cà rốt, gừng… Tết này hãy thử làm mứt phật thủ nhé, công thức rất đơn giản nhưng thành phẩm lại không kém phần hấp dẫn chút nào. Món mứt này còn có thể bảo quản sử dụng từ 6 tháng tới 1 năm nữa.

  • Đặc biệt, phật thủ cũng được dùng làm gia vị trong cả các món ăn như: gà hấp lá sen cùng phật thủ và nấm, phật thủ hầm trái cây và nấm… đều là các món ngon, bổ.

  • Cháo phật thủ cũng là 1 món không thể không kể tới, sử dụng rất tốt cho người bị đau tức vùng ngực, ho…

  • Quả phật thủ đem ngâm rượu vừa có thể dùng trang trí phòng khách cũng có thể sử dụng trong việc chữa chứng rối loạn tâm thần ý thức.

​3. Kỹ thuật trồng phật thủ

Thời vụ trồng: Phật thủ có thể trồng quanh năm, đặc biệt là vụ đông xuân trồng vào tháng 2 – 3, vụ thu đông trồng từ tháng 8 – 10.

* Mật độ trồng

– Cây cách cây 3m, hàng cách hàng 4m.

– Kích thước hốc trồng 0,6×0,6×0,6m.

– Nếu vùng đất thấp phải có hệ thống thủy lợi tưới tiêu hoàn chỉnh, đắp mô cao 0,5 – 0,6m, rộng 0,8-1m.

– Nếu vùng đất cao, mặt đất bằng phẳng đắp mô cao 0,3 -0,8m, rộng 0,8-1m, mặt đất nghiêng <5% không vun mô.

* Đất trồng: Trộn thêm vôi bột 1 kg + phân hữu cơ hoai mục 10 -15kg + 10-15kg tro trấu hoai (hoặc bã dừa, bã đậu) + Super lân 1kg.

* Cách trồng: Đào một hốc nhỏ giữa mô, đặt cây con vào hốc, tháo bao đựng bầu ra, lấp đất giữ chặt bầu cây, cắm cọc giữ cây cố định.

* Phân bón:

– Bón lót

Trước khi trồng, bón lót phân chuồng, phân hữu cơ hoai mục khoảng 20 kg/hố trồng.

Bón phía dưới hố, lấp ít đất và đặt cây con để trồng.

Sau khi trồng, tưới nước giữ ẩm vừa phải cho cây. Có thể tưới từ 2 – 3 ngày/lần cho những tuần đầu sau trồng. Sau đó khoảng 1 tuần – 10 ngày tưới 1 lần.

Chú ý luôn giữ sạch cỏ dại.

– Bón thúc

Năm đầu tiên, bón thúc với liều lượng 1 muỗng canh phân urea pha với bình 10 lít nước để tưới cho cây. 1 năm tưới 3 – 4 lần.

Có thể bổ sung phân lân, kali và các yếu tố vi trung, vi lượng thông qua bón thêm phân hữu cơ và hữu cơ khoáng theo khuyến cáo.

Khi tưới bằng phân hữu cơ ngâm pha loãng tỷ lệ khoảng từ 1 – 5 để tưới cho cây. Bón thúc từ năm thứ hai là 10 – 50g phân urea/cây/năm.

Chia làm 3 – 4 lần bón vào gốc lấp đất hoặc pha nước tưới. Nếu tưới cần tưới xả lại một lần với nước lã.

* Chống rét

Cây Phật thủ chịu rét yếu, nhiệt độ thích hợp là 22oC – 26oC.

Tưới nước nên căn cứ theo mùa, khi nhiệt độ thấp 3-4 ngày tưới một lần. Mùa hè nhiệt độ cao, ngày tưới 1 lần.

Cây Phật thủ ưa sáng, nên phải để chậu trồng cây nơi có ánh sáng trực tiếp. Đặc biệt, loại cây này dễ bị rụng lá, nếu số lá rụng hơn một nửa, sẽ gây ảnh hưởng đến sự quang hợp, ảnh hưởng đến việc ra hoa kết quả, phải kịp thời tỉa bớt các chồi ngọn để giữ lá, giữ được lá là giữ được quả. Mùa thu chỉ giữ lại ít ngọn để năm sau cho quả.

Vào mùa đông, không nên để gió lạnh thổi vào cây, phải khống chế lượng nước tưới, giữ cho chậu ẩm vừa.

* Tỉa cành tạo tán: Hạn chế cành vượt, loại bỏ những cành già cỗi sâu bệnh, giúp cây thông thoáng, có dáng đẹp, tăng khả năng quang hợp và cây phát triển cân đối.

* Bổ sung đất cho cây: Vào thời kỳ bón thúc cho cây nên cho thêm đất mới vào tán cây dầy 2-3cm cùng kết hợp việc bón phân hữu cơ hoai hay phân hóa học.

Phòng trừ sâu bệnh

– Sâu vẽ bùa: Gây hại thường xuyên vào giai đoạn ra lá non, dùng thuốc có tính nội hấp như: Sevin 80WP, Padan 95SP, Cymbush, Lanate .

– Rầy chổng cánh: Là đối tượng trung gian truyền bệnh vàng lá Grening, sử dụng thuốc Aplaud MIPC 25%, BTN, Admire 50ND, Basan 50ND, Trebon 10ND .

– Rầy mềm: Chích hút nhựa trên chồi non hay mặt dưới lá non sử dụng thuốc: Basan 50ND, Supracide 40EC, Polytrin 40EC, Trebon 10ND.

– Nhện đỏ: Ấu trùng và thành trùng đều gây hại sử dụng thuốc: Confidor, Kelthane, Danitol.

– Bệnh loét, ghẻ: Bệnh gây hại nặng vào mùa mưa, sử dụng thuốc gốc đồng để phòng trị như: Coper Zin, Coper B, Zineb 80 BHN, Kasuran, Bordeux.

– Bệnh thối gốc – chảy nhựa: Bệnh gây hại nhiều ở thân rễ, sử dụng thuốc để phòng trị như: Captan 75 BHN, aliet 80 BHN, Coper Zine.

– Bệnh vàng lá gân xanh: Triệu chứng cây lùn nhỏ, tán lá không đều, lá nhỏ đi. biến vàng lốm đốm hoặc vàng lá gân xanh. Để hạn chế bệnh nên trồng xen ổi với mật độ 2 hàng cam 1 hàng ổi.

Thu hoạch

Khi quả chín vàng thì tiến hành thu hoạch, nên thu hoạch vào lúc trời mát, không nên thu quả sau cơn mưa hoặc có sương mù nhiều vì quả dễ bị ẩm thối khi tồn trữ.

Nguồn: TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU LÂM NGHIỆP VÙNG NÚI PHÍA BẮC